Showing posts with label chữ ký số. Show all posts
Showing posts with label chữ ký số. Show all posts

Friday, April 26, 2013

Hà Lan bị tin tặc tấn công, chữ ký số không thể sử dụng

Hệ thống chữ ký số quốc gia DigiD của Hà Lan không thể truy cập được kể từ ngày 23.4 do một cuộc tấn công mạng kiểu từ chối dịch vụ (DDoS), AFP dẫn thông cáo của Bộ Nội vụ Hà Lan ngày 24.4.

chu ky so
Hà Lan bị tin tặc tấn công

Người phát ngôn Frank Wassenaar của Bộ Nội vụ Hà Lan cho AFP biết có đến hơn 10 triệu trong số 17 triệu dân số Hà Lan dựa vào DigiD để thực hiện các thanh toán trên mạng.
Tuy nhiên, Bộ Nội vụ Hà Lan khẳng định tin tặc đã không đánh cắp thông tin cá nhân của người dùng DigiD.
Theo AFP, DigiD là một hệ thống an toàn dành cho người dân Hà Lan thực hiện các gia
o dịch trên mạng mà không cần phải đến tận nơi để ký tên.
Người dân Hàn Lan dùng DigiD để đóng thuế, thanh toán hóa đơn…
Đơn vị an ninh mạng thuộc lực lượng cảnh sát Hà Lan đang tiến hành điều tra vụ tấn công mạng này, theo Bộ Nội vụ Hà Lan.
Một số ngân hàng và hãng hàng không KLM của Hà Lan cũng bị tấn công mạng kiểu DDoS trong những tuần gần đây, khiến các website và dịch vụ ngân hàng online bị tắt nghẽn trong nhiều ngày liền.

(Theo trang Chữ Ký Số)

Thursday, April 18, 2013

Công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài

Thủ tục  
Công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài
- Trình tự thực hiện:
- Tổ chức xin công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài (Tổ chức) khai báo đầy đủ và chính xác thông tin trong hồ sơ cũng như nộp các giấy tờ cần thiết kèm theo trong hồ sơ được quy định tại Nghị định 26/2007/NĐ-CP, Nghị định 106/2011/NĐ-CP, Thông tư 37/2009/TT-BTTTT và Thông tư 08/2011/TT-BTTTT.
- Tổ chức gửi hồ sơ về Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Ứng dụng CNTT), 18 Nguyễn Du, Hà Nội.
- Bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Bộ TTTT (Cục Ứng dụng công nghệ thông tin) cấp giấy biên nhận qua hệ thống bưu chính hoặc cấp trực tiếp cho tổ chức đăng ký hoạt động.
- Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ TTTT kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Trường hợp hợp lệ, Bộ TTTT tiếp nhận hồ sơ và thông báo bằng văn bản cho tổ chức, trong đó hẹn ngày trả kết quả giải quyết hồ sơ. Trường hợp không hợp lệ, Bộ TTTT thông báo bằng văn bản cho tổ chức.
- Trong vòng 60 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ theo quy định, Bộ TTTT chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ và các đơn vị liên quan thẩm tra. Trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 52, Bộ TTTT sẽ cấp giấy công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài cho tổ chức. Trường hợp không đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định, Bộ TTTT có văn bản thông báo và nêu rõ lý do.
- Cách thức thực hiện; 
- Nộp trực tiếp đến Bộ TTTT (Cục Ứng dụng CNTT), 18 Nguyễn Du, Hà Nội.
- Qua hệ thống bưu chính
- Thành phần, số lượng hồ sơ:
-   Đơn đề nghị công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài theo mẫu tại Phụ lục VIII Thông tư này.
-   Bản nội dung gốc và bản dịch ra tiếng Việt của điều ước quốc tế có quy định về việc công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài mà Việt Nam có ký kết hoặc tham gia với quốc gia nơi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đó đăng ký hoạt động.
-   Bản sao hợp lệ (có công chứng hoặc một hình thức chứng nhận hợp pháp khác) giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số tại nước sở tại.
-   Giấy chứng nhận tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đang hoạt động được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cấp trong vòng 03 tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký.
-   Các tài liệu kỹ thuật chứng minh độ tin cậy của chữ ký số và chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số nước ngoài đó cấp không thấp hơn độ tin cậy của chữ ký số và chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng của Việt Nam, tối thiểu phải đáp ứng các tiêu chuẩn thuộc Danh mục tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành.
-   Bản sao hợp lệ giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam.
-     Số lượng hồ sơ: 08 bộ (01 bộ bản chính, 07 bộ bản sao)
- Thời hạn giải quyết:
60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định
- Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính:
Tổ chức                                                                   
- Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:
- Cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định: Bộ Thông tin và Truyền Thông
- Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): Cục Ứng dụng CNTT
- Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC: Trung tâm chứng thực chữ ký số quốc gia (thuộc Cục Ứng dụng CNTT)
- Cơ quan phối hợp (nếu có): Các Bộ có liên quan:Bộ Bộ Công An, Ban Cơ yếu Chính phủ (Bộ Nội Vụ);
Các đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông: Vụ Pháp chế, Cục Viễn thông, Vụ Khoa học và Công nghệ, Vụ Công nghệ thông tin, Vụ Kế hoạch - Tài chính
- Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:
Giấy chứng nhận                      
- Lệ phí (nếu có):
Không
- Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai (nếu có và đề nghị đính kèm):
- Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có):
- Quốc gia mà tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đó đăng ký hoạt động có ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế có quy định về việc công nhận chữ ký số và chứng thư số nước ngoài mà Việt Nam có tham gia.
- Được cơ quan có thẩm quyền của nước mình cấp phép hoặc chứng nhận đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số và đang hoạt động.
- Độ tin cậy của chữ ký số và chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số đó cấp không thấp hơn độ tin cậy của chữ ký số và chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng của Việt Nam.
- Có văn phòng đại diện tại Việt Nam để giải quyết các vấn đề có liên quan.
- Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
- Nghị định số 187/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông
- Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 2 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
- Nghị định 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 02 năm 2007 Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
- Luật giao dịch điện tử số 51/2005/QH11
- Thông tư 37/2009/TT-BTTTT ngày 14/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về hồ sơ và thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số
- Thông tư 08/2011/TT-BTTTT ngày 31/3/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 37/2009/TT-BTTTT ngày 14 tháng 12 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Quy định về hồ sơ và thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số


(Theo trang tin chữ ký số)

Video hướng dẫn sử dụng kê khai thuế bằng chữ ký số

Video hướng dẫn sử dụng kê khai thuế bằng chữ ký số chi tiết



(Theo trang chữ ký số)

Chữ ký số là gì

Chữ ký số là gì
Ngày nay các giao dịch thương mại điện tử đang ngày càng phổ biến. Vấn đề bảo mật trong các giao dịch đó cần phải được đảm bảo, chính vì vậy mà chữ ký số ra đời. Do đó khái niệm “ chữ ký số là gì?” được nhiều người tìm hiểu. Chính do nhu cầu đó, tôi đã tìm hiểu các thông tin liên quan đến chữ ký số để giúp mọi người hiểu hơn về vấn đề này.
Phân biệt rõ ràng chữ ký số và chữ ký điện tử:  Trên môi trường mạng, bất kì dạng thông tin nào được sử dụng để nhận biết một con người đều coi  là chữ ký điện tử. một hình ảnh hoặc đoạn âm thanh được chèn vào cuối e-mail, đó cũng là chữ ký điện tử.
chữ ký số
Chữ ký số

Chữ ký số là một dạng, an toàn nhất và cũng được sử dụng rộng rãi nhất. Chữ ký này được tạo nên dựa trên kỹ thật sử dụng mã khóa công khai (PKI), vì vậy người sử dụng cần có một cặp khóa bao gồm khóa bí mật và công khai. Khóa bí mật có được khi một người đăng ký sử dụng dịch vụ và được lưu trữ trong một thiết bị rất an toàn là Token hoặc SmartCard. Thiết bị này có cấu trúc rất tinh vi, gồm có đầy đủ bộ nhớ Ram, CPU…bảo đảm lưu trữ an toàn cho khóa bí mật, không ai có thể sao chép hay nhân bản được và virus không thể phá hỏng được. Người chủ chữ ký sử dụng khóa bí mật để tạo chữ ký số, sau đó ghép nó dữ liệu thông điệp rồi gửi đi. Bên cạnh đó, người nhận dùng mã công khai giải mã chữ ký số để nhận biết được người gửi là ai. Toàn bộ quy trình giải mã và ký được thực hiện rễ ràng qua phần mềm.
Điểm quan trọng là các cặp khóa trên do những nhà cung cấp dịch vụ đăng ký chữ ký điện tử cấp sau khi đã kiểm tra, xác minh chủ của nó (cá nhân, tổ chức) là có thực. Nhà cung cấp dịch vụ cũng đồng thời giao cho tổ chức hoặc cá nhân đó một chứng thư số gần giống với chứng minh thư  nhân dân hay giấy xác nhận sự tồn tại của cơ quan, tổ chức trên mạng. Chứng thư này có chứa mã khóa công khai của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó và được duy trì trên cơ sở dữ liệu của nhà cung cấp chữ ký số, do vậy người nhận có thể truy cập vào cơ sở dữ liệu đó để xác minh xem chúng là có người hay không.


(Theo trang tin Chữ ký số)

Tuesday, April 16, 2013

Chữ ký số

Chữ ký số là một tập con của chữ ký điện tử
Ta có thể dùng định nghĩa về chữ ký điện tử cho chữ ký số:
Chữ ký điện tử là thông tin đi kèm theo dữ liệu (văn bản, hình ảnh, video...) nhằm mục đích xác định người chủ của dữ liệu đó.
Ta cũng có thể sử dụng định nghĩa rộng hơn, bao hàm cả mã nhận thực, hàm băm và các thiết bị bút điện tử.
Chữ ký số khóa công khai (hay hạ tầng khóa công khai) là mô hình sử dụng các kỹ thuật mật mã để gắn với mỗi người sử dụng một cặp khóa công khai - bí mật và qua đó có thể ký các văn bản điện tử cũng như trao đổi các thông tin mật. Khóa công khai thường được phân phối thông qua chứng thực khóa công khai. Quá trình sử dụng chữ ký số bao gồm 2 quá trình: tạo chữ ký và kiểm tra chữ ký.
Khái niệm chữ ký điện tử - mặc dù thường được sử dụng cùng nghĩa với chữ ký số nhưng thực sự có nghĩa rộng hơn. Chữ ký điện tử chỉ đến bất kỳ phương pháp nào (không nhất thiết là mật mã) để xác định người chủ của văn bản điện tử. Chữ ký điện tử bao gồm cả địa chỉ telex và chữ ký trên giấy được truyền bằng fax.
chữ ký số
Chữ ký số

Lịch sử

Con người đã sử dụng các hợp đồng dưới dạng điện tử từ hơn 100 năm nay với việc sử dụng mã Morse và điện tín. Vào năm 1889, tòa án tối cao bang New Hampshire (Hoa kỳ) đã phê chuẩn tính hiệu lực của chữ ký điện tử. Tuy nhiên, chỉ với những phát triển của khoa học kỹ thuật gần đây thì chữ ký điện tử mới đi vào cuộc sống một cách rộng rãi [6].
Vào thập kỷ 1980, các công ty và một số cá nhân bắt đầu sử dụng máy fax để truyền đi các tài liệu quan trọng. Mặc dù chữ ký trên các tài liệu này vẫn thể hiện trên giấy nhưng quá trình truyền và nhận chúng hoàn toàn dựa trên tín hiệu điện tử.
Hiện nay, chữ ký điện tử có thể bao hàm các cam kết gửi bằng email, nhập các số định dạng cá nhân (PIN) vào các máy ATM, ký bằng bút điện tử với thiết bị màn hình cảm ứng tại các quầy tính tiền[7], chấp nhận các điều khoản người dùng (EULA) khi cài đặt phần mềm máy tính, ký các hợp đồng điện tử online[8]...
Các ưu điểm của chữ ký số
Khả năng xác định nguồn gốc
Các hệ thống mật mã hóa khóa công khai cho phép mật mã hóa văn bản với khóa bí mật mà chỉ có người chủ của khóa biết. Để sử dụng chữ ký số thì văn bản cần phải được mã hóa bằng hàm băm (văn bản được "băm" ra thành chuỗi, thường có độ dài cố định và ngắn hơn văn bản) sau đó dùng khóa bí mật của người chủ khóa để mã hóa, khi đó ta được chữ ký số. Khi cần kiểm tra, bên nhận giải mã (với khóa công khai) để lấy lại chuỗi gốc (được sinh ra qua hàm băm ban đầu) và kiểm tra với hàm băm của văn bản nhận được. Nếu 2 giá trị (chuỗi) này khớp nhau thì bên nhận có thể tin tưởng rằng văn bản xuất phát từ người sở hữu khóa bí mật. Tất nhiên là chúng ta không thể đảm bảo 100% là văn bản không bị giả mạo vì hệ thống vẫn có thể bị phá vỡ.
Vấn đề nhận thực đặc biệt quan trọng đối với các giao dịch tài chính. Chẳng hạn một chi nhánh ngân hàng gửi một gói tin về trung tâm dưới dạng (a,b), trong đó a là số tài khoản và b là số tiền chuyển vào tài khoản đó. Một kẻ lừa đảo có thể gửi một số tiền nào đó để lấy nội dung gói tin và truyền lại gói tin thu được nhiều lần để thu lợi (tấn công truyền lại gói tin).
Tính toàn vẹn
Cả hai bên tham gia vào quá trình thông tin đều có thể tin tưởng là văn bản không bị sửa đổi trong khi truyền vì nếu văn bản bị thay đổi thì hàm băm cũng sẽ thay đổi và lập tức bị phát hiện. Quá trình mã hóa sẽ ẩn nội dung của gói tin đối với bên thứ 3 nhưng không ngăn cản được việc thay đổi nội dung của nó. Một ví dụ cho trường hợp này là tấn công đồng hình (homomorphism attack): tiếp tục ví dụ như ở trên, một kẻ lừa đảo gửi 1.000.000 đồng vào tài khoản của a, chặn gói tin (a,b) mà chi nhánh gửi về trung tâm rồi gửi gói tin (a,b3) thay thế để lập tức trở thành triệu phú!Nhưng đó là vấn đề bảo mật của chi nhánh đối với trung tâm ngân hàng không hẳn liên quan đến tính toàn vẹn của thông tin gửi từ người gửi tới chi nhánh, bởi thông tin đã được băm và mã hóa để gửi đến đúng đích của nó tức chi nhánh, vấn đề còn lại vấn đề bảo mật của chi nhánh tới trung tâm của nó
Tính không thể phủ nhận
Trong giao dịch, một bên có thể từ chối nhận một văn bản nào đó là do mình gửi. Để ngăn ngừa khả năng này, bên nhận có thể yêu cầu bên gửi phải gửi kèm chữ ký số với văn bản. Khi có tranh chấp, bên nhận sẽ dùng chữ ký này như một chứng cứ để bên thứ ba giải quyết. Tuy nhiên, khóa bí mật vẫn có thể bị lộ và tính không thể phủ nhận cũng không thể đạt được hoàn toàn.
Thực hiện chữ ký số khóa công khai
Chữ ký số khóa công khai dựa trên nền tảng mật mã hóa khóa công khai. Để có thể trao đổi thông tin trong môi trường này, mỗi người sử dụng có một cặp khóa: một công khai và một bí mật. Khóa công khai được công bố rộng rãi còn khóa bí mật phải được giữ kín và không thể tìm được khóa bí mật nếu chỉ biết khóa công khai.
Toàn bộ quá trình gồm 3 thuật toán:
Thuật toán tạo khóa
Thuật toán tạo chữ ký số
Thuật toán kiểm tra chữ ký số
Xét ví dụ sau: Bob muốn gửi thông tin cho Alice và muốn Alice biết thông tin đó thực sự do chính Bob gửi. Bob gửi cho Alice bản tin kèm với chữ ký số. Chữ ký này được tạo ra với khóa bí mật của Bob. Khi nhận được bản tin, Alice kiểm tra sự thống nhất giữa bản tin và chữ ký bằng thuật toán kiểm tra sử dụng khóa công cộng của Bob. Bản chất của thuật toán tạo chữ ký đảm bảo nếu chỉ cho trước bản tin, rất khó (gần như không thể) tạo ra được chữ ký của Bob nếu không biết khóa bí mật của Bob. Nếu phép thử cho kết quả đúng thì Alice có thể tin tưởng rằng bản tin thực sự do Bob gửi.
Thông thường, Bob không mật mã hóa toàn bộ bản tin với khóa bí mật mà chỉ thực hiện với giá trị băm của bản tin đó. Điều này khiến việc ký trở nên đơn giản hơn và chữ ký ngắn hơn. Tuy nhiên nó cũng làm nảy sinh vấn đề khi 2 bản tin khác nhau lại cho ra cùng một giá trị băm. Đây là điều có thể xảy ra mặc dù xác suất rất thấp.
Một vài thuật toán chữ ký số
Full Domain Hash, RSA-PSS ..., dựa trên RSA
DSA
ECDSA
ElGamal signature scheme
Undeniable signature
SHA (thông thường là SHA-1) với RSA
Tình trạng hiện tại - luật pháp và thực tế
Tất cả các mô hình chữ ký số cần phải đạt được một số yêu cầu để có thể được chấp nhận trong thực tế:
Chất lượng của thuật toán: một số thuật toán không đảm bảo an toàn;
Chất lượng của phần mềm/phần cứng thực hiện thuật toán;
Khóa bí mật phải được giữ an toàn;
Quá trình phân phối khóa công cộng phải đảm bảo mối liên hệ giữa khóa và thực thể sở hữu khóa là chính xác. Việc này thường được thực hiện bởi hạ tầng khóa công cộng (PKI) và mối liên hệ khóangười sở hữu được chứng thực bởi những người điều hành PKI. Đối với hệ thống PKI mở, nơi mà tất cả mọi người đều có thể yêu cầu sự chứng thực trên thì khả năng sai sót là rất thấp. Tuy nhiên các PKI thương mại cũng đã gặp phải nhiều vấn đề có thể dẫn đến những văn bản bị ký sai.
Những người sử dụng (và phần mềm) phải thực hiện các quá trình đúng thủ tục (giao thức).
Chỉ khi tất cả các điều kiện trên được thỏa mãn thì chữ ký số mới là bằng chứng xác định người chủ (hoặc người có thẩm quyền) của văn bản.
Một số cơ quan lập pháp, dưới sự tác động của các doanh nghiệp hy vọng thu lợi từ PKI hoặc với mong muốn là người đi tiên phong trong lĩnh vực mới, đã ban hành các điều luật cho phép, xác nhận hay khuyến khích việc sử dụng chữ ký số. Nơi đầu tiên thực hiện việc này là bang Utah (Hoa kỳ). Tiếp theo sau là các bang Massachusetts và California. Các nước khác cũng thông qua những đạo luật và quy định và cả Liên hợp quốc cũng có những dự án đưa ra những bộ luật mẫu trong vấn đề này. Tuy nhiên, các quy định này lại thay đổi theo từng nước tùy theo điều kiện về trình độ khoa học (mật mã học). Chính sự khác nhau này làm bối rối những người sử dụng tiềm năng, gây khó khăn cho việc kết nối giữa các quốc gia và do đó làm chậm lại tiến trình phổ biến chữ ký số.

(Theo wikipedia.org)